|
Ngày nay, các nhà nghiên cứu lịch
sử võ học đều thừa nhận, Thiếu Lâm không những là cội
nguồn của nhiều môn võ khác, mà còn được tôn xưng là
Ngôi Sao Bắc Đẩu trong nền võ học.

Võ học Thiếu Lâm vừa gắn
liền với ngôi cổ tự lịch sử, vừa là kho võ học vô cùng
đồ sộ. Thật vậy, ngoài những đường quyền, ngọn cước và
sử dụng đủ loại binh khí (thập bát ban võ nghệ), Thiếu
Lâm còn có những phương pháp rèn luyện công phu đặc dị
như: luyện nội công, luyện ngoại công, khinh công, ngạch
công, nhuyễn công, điểm huyệt và giải huyệt, y dược trị
thương và các phương pháp thu nhận, huấn luyện môn đồ
cũng như phương pháp xây dựng Thiền Viện, Võ Đường...
Đồng thời đó
cũng là nơi sản sinh ra nhiều đoá hóa kỳ tài “danh trấn
giang hồ”, xứng đáng bước vào ngôi vị Minh Chủ Võ Lâm,
để giữ gìn hòa bình, không để võ lâm nổi sóng gió. Và
nhất là, hình ảnh các vị Đại sư, võ công thâm hậu, đạo
đức cao siêu, luôn ra tay bảo vệ kẻ cô thế, xua đuổi kẻ
hung tàn bạo ác, đem lại yên bình cho quốc gia, cho dân
tộc.
Vậy Võ học Thiếu Lâm phát
xuất từ đâu ? Khi nào ?
Chùa Thiếu Lâm nằm ở hướng
Tây bắc huyện Đăng Phong, tỉnh Hà Nam, cách Bắc Kinh 600
km về phía Nam và cách Nam Kinh 600 km về phía Tây. Chùa
tọa lạc ở sườn Tây núi Tung Sơn, mặt đối với núi Thiếu
Thất, lưng dựa Ngũ Nhũ Phong. Vì chùa được xây dựng
trong rừng rậm ở sườn âm núi Thiếu Thất nên lấy tên là
Thiếu Lâm Tự.
Năm Thái Hòa thứ 19, Bắc
Ngụy (năm 495), vua Hiếu Văn Đế xây dựng chùa Thiếu Lâm,
ban tặng cho vị cao tăng Ấn Độ tên là Bạt Đà, dùng để cư
trú mà hành đạo. Võ học Thiếu Lâm có mặt từ đây.
Ngài Bồ Đề Đạt Ma, tên thật
là Bồ Đề Đa La, con trai thứ ba của vua Nam Thiên Trúc,
thuộc dòng Sát Đế Lợi. Về sau Ngài đi tu và gặp Tổ Bát
Nhã Đa La, đời thứ 27 của Phật giáo Thiên Trúc. Ngài
được truyền Y Bát làm Tổ đời 28. Sau đó vào ngày 21
tháng 7 năm Mậu Tuất (năm 518 sau tây Lịch) Ngài lên
thuyền vượt biển sang trung Hoa. Ngài tới Quảng Châu vào
ngày 1 tháng 10 năm Đinh Mùi. Vua Lương Võ Đế hay tin
liền mời Ngài về Kim Lăng để hội kiến, nhưng vì ý không
hợp nhau nên chia tay.. Đạt ma Tổ Sư bứt một cọng lau
ném xuống sông, rồi đứng trên đó mà vượt Trường Giang
(cước đạp lô điệp quá giang). Năm 1307, ở Tung Sơn Thiếu
Lâm Tự có lập một tượng đá, tạc cảnh Ngài đạp cọng lau
qua sông. Năm Hiếu Xương thứ ba, đời Bắc Ngụy (527),
Ngài Bồ Đề Đạt Ma đến Tung Sơn Tự. Tại đây, Ngài thấy
nhiều nhà sư có thể trạng yếu đuối, thường hay ngủ gật
trong lúc Ngài thuyết giảng và không chịu nổi với khí
lạnh bên ngoài của núi rừng xâm nhập. Vì thế, Ngài quyết
định tham thiền để tìm cách giúp đỡ những nhà sư này.
Kết quả sau 9 năm diện bích trong động thiếu Thất, Ngài
đã đúc kết hết thảy tinh yếu vào trong hai cuốn Dịch Cân
Kinh và Tẩy Thủy Kinh, trở thành tỵ tổ của Thiếu Lâm võ
công và cũng là Sơ Tổ Thiền Tông Trung Hoa.
Theo “Tổ Tổ tương truyền di
ngôn khẩu quyết văn” và “Bồ đề hành kinh” thì Bồ Đề Đạt
ma nhập diệt vào ngày 9 tháng 10 năm Bính Thìn (năm 536
sau TL), nhằm năm Thiên Giám thứ 2, đời Lương Võ Đế. Sau
khi Ngài viên tịch, các Đại sư Thiếu Lâm tiếp tục tập
luyện những phương thức do Ngài truyền lại. Với Dịch Cân
Kinh thì rèn luyện nội công, còn Tẩy Thủy Kinh thì rèn
luyện khí công. Chẳng bao lâu, các Đại sư nhận ra rằng
việc luyện tập Dịch Cân Kinh và Tẩy Thủy Kinh, không
những làm sức khỏe tăng tiến, cơ thể mạnh mẽ mà tinh
thần càng phấn chấn, trầm tĩnh, có thể chống lại khí hậu
lạnh của núi rừng, bịnh tật, mệt mỏi sau khi ngồi thiền
và có thể dũng cảm vượt qua những khó khăn nguy hiểm
trong lúc đi hành đạo. Võ thuật được phát triển mạnh mẽ
vào đời Đường (618 - 907), sau khi 13 võ Tăng giúp Vua
Đường Thái Tông phá trận Vương Thế Sung (630). Lịch sử
võ thuật Trung Quốc còn nhắc nhở nhiều đến ba vị có công
lớn nhất từ Thiếu Lâm Tự là Chí Tháo, Huệ Dương và Đàm
Tông.
Võ Thuật Thiếu Lâm nguyên
thuỷ có 18 thế chính yếu. Đến đời Tống, Tống Thái Tổ
phát triển thành 32 thế Trường quyền. Một thế kỷ sau,
Giác Viễn Thượng Nhân mở rộng thành 72 thế (thất thập
nhị huyền công). Từ đó, trải qua các thời đại, các Đại
sư không ngừng rèn luyện và sáng tác thêm, khiến cho võ
thuật Thiếu Lâm ngày càng phong phú và đồ sộ. Đến đời
nhà Minh, tùy theo sở thích, căn cơ và phong thổ mà môn
phái Thiếu Lâm chia làm hai hệ phái: Bắc phái (bắc cước)
và Nam phái (Nam quyền). Đỉnh cao của võ thuật Thiếu Lâm
là vào đời nhà Thanh, thời Ngài Chí Thiện Thiền sư,
không những võ học phát triển trong Tăng nhân mà còn
truyền ra bên ngoài, đi vào đời sống người dân, tạo
nguồn sức sống mạnh mẽ, nâng cao tinh thần thượng võ,
cứu nguy giúp nước.
Chùa Thiếu Lâm bị hủy hoại
một phần vào những năm 556, 962 và 844. Chùa bị cháy ba
lần vào những năm 612, 1736 và 1928. Điều may mắn là mỗi
lần cháy chùa chỉ bị hủy hoại một phần, ngay cả lần binh
lính Mãn Thanh tấn công chùa. Sau thời kỳ cách Mạng Văn
Hóa, Trung Quốc coi võ thuật Thiếu Lâm là di sản văn hóa
dân tộc cần được bảo tồn. Chùa Thiếu Lâm được trùng tu
vào những năm cuối thập kỷ 70.
Như trên đã nói, các vị Đại
Sư Thiếu Lâm không những võ công tuyệt thế, nội công
thâm hậu mà còn có võ đức sáng ngời. Trong môn đồ Thiếu
Lâm Tự, còn lưu truyền lời dạy của Đại sư Hạnh Ẩn, và
xem đó là tấm gương soi mình, là mục đích luyện võ của
mình: “Nếu có một kẻ nào đó, mà kẻ ấy là một người vô
đạo đức xin được truyền thụ võ công, Ta sẽ không dạy cho
hắn điều gì cả, dù kẻ ấy muốn dâng cho Ta ngàn vàng. Con
có thể biến đá thành vàng, một khi con hấp thụ được võ
thuật chân truyền từ Thiếu Lâm”, và khi mà chúng ta được
chân truyền từ võ học Thiếu Lâm thì “con có thể xuyên
qua kim cang thạch bích. Vận dụng cơ thể phát sinh kình
lực cần có và phải chắc chắn rằng con không sợ hãi để
con đủ can đảm. Khi xoay mình phải nhanh và uy lực như
một cơn lốc di chuyển khỏi thế bất lợi mà thân người vẫn
đúng tư thế, chiếm lĩnh vị trí thuận lợi. Cái duỗi tay
của con như mây che lấp ánh trăng và đứng vững trên đôi
chân của con tựa như thế núi. Hông của con trầm xuống
làm vững chắc bộ tấn, nhờ thế mà con không bị đánh ngã.
Rèn luyện và rèn luyện mãi, nếu con là người nghiêm túc
thì không để thời gian trôi qua vô ích...”[1]
Như vậy, chúng ta thấy võ
đức chính là linh hồn của võ thuật, việc tôn cao võ đức
là truyền thống từ xưa đến nay của giới võ thuật. Một vị
võ sư, nội công thâm hậu, võ công trác tuyệt mà không có
võ đức, mang đầy tà tâm thì sẽ gây cho giang hồ nhiều
sóng gió, chắc chắn bị võ lâm đồng đạo chê trách và bị
tiêu diệt. Còn vị được bầu làm Minh Chủ Võ Lâm thì không
những võ công cao siêu mà còn có võ đức sáng ngời.
Tiên sư nói: “Tập võ giả
thượng đức bất thượng lực” nghĩa là, tập võ chuộng đức
không chuộng sức. Sức tuy đả thương người nhưng chưa
chắc tâm phục, còn có đức tuy lực kém mà mọi người tâm
phục khẩu phục. Cho nên Đức là phẩm chất của người luyện
võ, là tiêu chuẩn để dự đoán một người mới học võ có thể
đạt được chân công hay không.Các đại sư tiền bối Thiếu
Lâm rất chú trọng đến việc huấn luyện và bồi dưỡng võ
đức, đã chế ra một hệ thống các quy định giới cấm, bắt
buột người học Thiếu Lâm phải tuân thủ nghiêm ngặt. Thời
nhà Minh, trong Thiếu Lâm thập điều giới ước có ghi:
“... truyền dạy học trò cần chọn lọc thận trọng, nếu xác
nhận là kẻ sĩ thật thà giản dị, hồn hậu, trung nghĩa thì
có thể đem kỹ thuật truyền cho...”; “... người tập luyện
ấy khỏe thể xác, tâm hồn làm tôn chỉ trọng yếu, quen
luyện tậm sớm tối không được tùy ý ngưng nghỉ...”;
“...lấy lòng từ bi của Phật gia làm gốc, tinh thông võ
nghệ chỉ để tự vệ, không vì huyết khí cương cường mà ham
đấu đá...”; “...bình nhật phải tôn kính Sư trưởng, không
được có hành vi chống cự hoặc ngạo mạn...”[2]. Như vậy,
chúng ta thấy người học võ phải lấy việc rèn luyện thân
tâm làm tôn chỉ, lấy tự vệ làm đức tín, phản đối việc
cậy khỏe đấu đá, cậy mạnh hiếp yếu mà phải “lấy đức dày
chở vật” cứu khốn phù nguy.
Võ đức còn thể hiện qua cách
ôm quyền bái chào trong lúc luyện tập hay diễn quyền.
Khi bước vào buổi tập, hay diễn quyền, chúng ta thường
bái để biểu lộ sự tôn kính vị khai sáng võ học, còn chào
là biểu lộ sự cung kính người Thầy đang trực tiếp hướng
dẫn cho chúng ta. Ôm quyền chào còn gọi là mời quyền, là
chiêu thế mang tính lễ nghi trong võ thuật, đồng thời,
ôm quyền chào biểu hiện sự khiêm tốn, lễ độ, là bộ phận
đạo đức trong quyền, là đầu mối tốt đẹp của bài múa và
tiêu chí một môn quyền thuật nào đó, có thể phản ảnh
được tôn chỉ và bộ mặt tinh thần của môn phái. Người tập
võ không chỉ ôm quyền làm lễ mà ý ở chỗ tránh làm đối
phương hoài nghi, cũng đồng thời, tránh đối phương có
khả năng che giấu cơ hội sát hại bằng tay. Trong võ
thuật có nhiều cách chào khác nhau, tùy theo môn phái,
quốc gia; môn phái Phật gia thường chào hợp chưởng[3].
Từ năm 1986, người ta chế định ra quy cách chào ôm quyền
thống nhất với hàm nghĩa mới mẻ, tay phải nắm thành
quyền với ý “lấy võ kết bạn”; tay trái gập ngón cái
không tự cao tự đại, chưởng trái che quyền phải với ý
quyền do lý tới; bốn ngón chưởng trái xòe sát nhau, ý
nói đồng đạo võ lâm bốn biển đoàn kết, cùng lòng mở mang
võ thuật.
Luyện tập Thiếu Lâm đòi hỏi
chúng ta phải kiên trì, phải lập chí cầu học, phải lập
tâm khổ luyện. Tục ngữ có nói : “Ngật đắc khổ trung khổ,
phương vi nhân thượng nhân” nghĩa là, nuôi được cái khổ
nhất trong cái khổ thì mới có thể làm bậc Thượng Nhân
được. Nên người học võ Thiếu Lâm phải bền lòng vững chí
“Trời nóng không sợ đổ mồ hôi, trời lạnh không sợ cóng
tay chân, bệnh vặt không nghỉ, mang bệnh luyện công, gió
mưa không ngại, ngày ngày như một, năm năm như một”.
Võ học Thiếu Lâm, cũng là sự
kết hợp nhuần nhuyễn giữa nội công và ngoại công. Nội
công là chỉ sự tu luyện về khí huyết, nội khí, kinh
mạch, tinh thần. Ngoại công là sự rèn luyện cơ bắp, gân
cốt, kình lực như : Thiết Sa Chưởng, Thiết Tý Chuyên...
Và điểm đặc biệt nữa của võ
thuật Thiếu Lâm là “Quyền Thiền Nhất Thể”. Quyền Thiền
Nhất Thể tức là phương pháp kết hợp giữa Thiền và Quyền,
phương pháp cụ thể là lấy “tọa thiền công” làm pháp
luyện nội công chủ yếu (dùng các hình thức tọa thiền để
luyện Tinh Khí Thần); thông qua tập trung tư tưởng (ý
thủ đan điền), bài trừ tạp niệm, tiến hành điều tâm,
điều tức, điều thân; thông qua Phật học, thanh quy Phật
môn, để bồi dưỡng tiết tháo và võ đức; thông qua tu tâm
dưỡng tánh, bồi bổ nguyên khí, tu luyện võ đức, đạt đến
cảnh giới “quyền thiền hợp nhất”. Như thế quyền và thiền
có mặt trong nhau, hỗ tương cùng nhau phát triển.
Bây giờ, Võ học phát triển,
Thiếu Lâm có mặt khắp nơi, không kể Đông Tây Nam Bắc và
tùy theo phong thổ mỗi quốc gia mà có những nét đặc sắc
riêng. Theo Lịch sử Võ Học Thế Giới chép rằng, các môn
phái Nga My, Không Động, Võ Đang xuất phát từ Thiếu lâm
tự; Karatedo, Taekwondo, Judo phát xuất từ cương quyền,
nhu quyền, nhu thuật của Thiếu Lâm tự; Kiếm đạo của Nhật
Bản, võ đạo trên thế giới đều tôn Ngài Bồ Đề Đạt Ma làm
thủy tổ. Như vậy, chúng ta thấy, bao nhiêu hoa trái xum
xuê vươn lên từ cây đại thọ thiền học hay võ học ở Trung
Hoa và Việt Nam đều vươn lên từ Ngài Bồ Đề Đạt Ma, nên
chúng ta có thể nói thiền và võ thuật cùng chung gốc và
có mối quan hệ rất mật thiết.
Và dĩ nhiên, Võ học Thiếu
Lâm truyền vào Việt Nam cũng là do các danh tăng Trung
Hoa sang truyền đạo, nên thịnh hành trong chùa trước và
từ đó phát triển, cải biến phù hợp với người dân Việt.
Đó là Việt Võ Đạo (Vovinam)
Qua đây, chúng ta thấy những
luồng sức mạnh tiết ra từ võ học, len lõi trong tâm khảm
của mỗi con người, làm cho đời sống con người cao quý.
Tinh thần thượng võ được đề cao, nhất là đời sống được
hiển bày, khiến con người đi đến với nhau trong niềm tin
chân thật, trong sáng, chắc chắn quốc gia hưng thịnh,
dân tộc vinh quang.
thegioivothuat
(NgọcChi: sưu tầm) |