|

II- Nội Gia và Ngoại Gia
1) Trình bày
Từ thế kỷ thứ 19, theo một truyền kỳ, võ thuật Trung Hoa
được chia ra hai khuynh hướng đối nghịch nhau :
- Quyền thuật thuộc Nội Gia bao gồm :
* Thái Cực Quyền
* Bát Quái Chưởng
* Hình Ý Quyền
* Những quyền thuật thuộc núi Võ Đang
* Lục Hợp Bát Pháp Quyền
- Và quyền thuật thuộc
Ngoại Gia bao gồm tất cả những môn quyền pháp còn lại.
Nhiều giải thích được nêu ra :
- Những môn Nội Gia Quyền gốc từ núi Võ Đang và những
môn Ngoại Gia Quyền xuất từ núi Tung Sơn; người ta còn
gọi Nội Gia Quyền là Võ Đang Môn và Ngoại Gia Quyền là
Thiếu Lâm Môn.
- Nội Gia Quyền dùng Khí và Ngoại Gia Quyền dùng Lực
- Động tác trong Nội Gia Quyền mềm dẻo và chậm đều, động
tác của Ngoại Gia Quyền cương ngạnh và nhanh lẹ.
- Nội Gia Quyền thủ nhiều hơn công, Ngoại Gia Quyền công
nhiều hơn thủ.
- Nội Gia Quyền xuất từ Đạo gia, Ngoại Gia Quyền gốc từ
Phật gia.
2) Luận bàn
Nhưng khi xét kỹ lại :
- Ba môn chính trong Nội Gia không có gốc từ núi Võ Đang
(Thái Cực Quyền xuất từ tỉnh Hà Nam, Hình Ý Quyền từ
tỉnh Sơn Tây, Bát Quái Chưởng từ tỉnh Hà Bắc)
- Những môn này không phải những môn duy nhất sử dụng
Nội Công.
- Trong Nội Gia có môn Hình Ý Quyền dùng động tác nhanh
lẹ và cương ngạnh.
- Nội Gia Quyền chỉ mới hấp thụ lý thuyết Đạo gia sau
này.
- Có những môn thuộc Ngoại Gia không xuất phát từ chùa
Thiếu Lâm.
- Ngoại Gia Quyền không chỉ chú trọng luyện Lực mà còn
luyện Nội Công (theo truyền thống của Thiếu Lâm Quyền,
môn phái vừa cương vừa nhu, có nội và ngoại công)
- Trong Ngoại Gia có vài môn chủ trương động tác nhu
nhuyễn.
- Ngoại Gia Quyền không xuất phát cả từ Phật gia.
Một số ví dụ :
- Chiến đấu pháp của Hình Ý Quyền (thuộc Nội Gia) rất
tương tự với chiến đấu pháp của Bát Cực Quyền (thuộc
Ngoại Gia)
3) Nghiên cứu lịch sử
Chúng ta phải phân biệt ra hai Nội Gia Quyền : một võ
phái và một nhóm bao gồm ít nhất ba võ phái.
a) Nội Gia Quyền cổ truyền
Theo tài liệu gần đây, danh từ Nội Gia bắt nguồn từ văn
hào kiêm triết học gia Hoàng Tông Hy (1610-1695), và
được ông ghi lại trong bài "Vương Chinh Nam mộ chí minh"
viết vào năm 1669.
Nội Gia Quyền vào thời đó là tên của một võ phái với lý
thuyết đối lập với lý thuyết của Thiếu Lâm Quyền (dĩ
tĩnh chế động, dĩ khí vận lực, dĩ nhu khắc cương, hóa
kình, vân vân...). Theo Hoàng Tông Hy, người tổ khai
sáng môn phái là Trương Tam Phong, một đạo sĩ danh tiếng
tại núi Võ Đang (vào thế kỷ thứ 12 hay 15, vì có hai đạo
sĩ trùng tên sống vào hai thời đại khác nhau).
Để đáp lại với núi Tung Sơn, núi của Phật Giáo, người ta
đã đưa ra núi Võ Đang, núi của Đạo Giáo. Và người đã đối
nghịch Đạt Ma (thế kỷ thứ 6), một tăng sĩ, với Trương
Tam Phong, một đạo sĩ.
Như vậy Vương Chinh Nam (1617-1669), Hoàng Tông Hy và
con của Tông Hy là Hoàng Bách Gia (1634-?) có luyện Nội
Gia Quyền. Và Hoàng Bách Gia có truyền lại quyển "Nội
Gia Quyền pháp", một quyển sách đã ảnh hưởng rất nhiều
môn Nội Gia hiện đại.
Cho tới nay, ta tưởng là môn Nội Gia Quyền đã bị thất
truyền. Nhưng vào đầu thế kỷ thứ 20, Trần Hiểu Đông
(1871-1934) và Vương Vệ Thận công khai truyền dạy chi
phái Tòng Khê Nội Gia Quyền...
b) Nội Gia Quyền hiện đại
Sự phân chia này xảy ra tại Bắc Kinh, vào năm 1894, khi
Bát Quái Quyền sư Trình Đình Hoa (1848-1900) (đệ tử của
Đổng Hải Xuyên, người sáng lập ra Bát Quái Chưởng), Hình
Ý Quyền sư Lưu Vĩ Lan, Lý Tồn Nghĩa (1847-1921) và Dương
gia Thái Cực Quyền sư Lưu Đức Khoan (?-1911) (đệ tử của
Dương Lộ Thiền) đề nghị hợp ba môn quyền thuật này lại
làm một môn phái riêng biệt lấy tên là Nội Gia Quyền...
Sau đó Tôn Lục Đường (1861-1933), đệ tử của Trình Đình
Hoa, trong quyển sách "Bát Quái Quyền học", xuất bản vào
năm 1916, xác nhận là Trương Tam Phong là tổ của môn Nội
Gia Quyền, và ghi là Thái Cực Quyền, Hình Ý Quyền và Bát
Quái Chưởng thuộc môn Nội Gia.
Vào năm 1921, Hứa Vũ Sinh trong quyển "Thái Cực quyền
thế đồ giải", cho Trương Tam Phong là tổ của môn Thái
Cực Quyền. Và ông lại nhập cây phả hệ của Thái Cực Quyền
vào cây phả hệ của Nội Gia Quyền.
Ông cho là Vương Tông, thuộc Nội Gia Quyền, học trò của
Trương Tam Phong (thế kỷ thứ 15) là Vương Tông Nhạc (thế
kỷ thứ 18). Nhưng Vương Tông là người tỉnh Thiểm Tây
sống vào thế kỷ thứ 15 còn Vương Tông Nhạc là người tỉnh
Sơn Tây sống vào thế kỷ thứ 18.
Hứa Vũ Sinh cho bắt nguồn từ Vương Tông Nhạc hai chi
phái:
- Nam phái Thái Cực Quyền với những danh sư của Nội Gia
Quyền như Trần Châu Đồng (thế kỷ thứ 16), Trương Tòng
Khê (thế kỷ thứ 16), Diệp Cận Tuyền, vân vân, ba người
nầy đều là người tỉnh Triết Giang
- Bắc phái Thái Cực Quyền với những danh sư của Thái Cực
Quyền như Tưởng Phát (thế kỷ thứ 16 và 17), Trần Trường
Hưng (thế kỷ thứ 18), người tỉnh Hà Nam, Dương Lộ Thiền,
người tỉnh Hà Bắc, vân vân...
Và từ đó, gần như ai cũng xác nhận là Thái Cực Quyền là
thuộc Nội Gia đối lập với Thiếu Lâm Quyền, thuộc Ngoại
Gia.
Tuy vậy vào năm 1939, Hứa Vũ Sinh trong quyển "Thái Cực
Quyền", đính chính sự sai lầm trong cuốn sách trước của
ông.
Sự phân tách hiện đại của võ thuật Trung Hoa ra hai đại
môn phái Nội Gia và Ngoại Gia phát xuất từ một sự ngụy
tạo hóa lịch sữ võ thuật Trung Hoa, chứ không dựa vào
nguyên tắc hay phương pháp luyện tập khác biệt, như ta
có thể lầm tưởng !
4) Kết luận
- Nội Gia Quyền hiện nay bao gồm ba môn phái chính: Thái
Cực Quyền, Bát Quái Chưởng và Hình Ý Quyền
- Ngoại Gia Quyền: Các môn phái còn lại.
III-Lịch sử quyền thuật Trung
Quốc, những giai đoạn quan trọng
1- Khởi nguyên có môn vật
Vết tích khảo cổ xưa nhất về quyền thuật Trung Hoa là
một cây lược bằng gỗ ; trên cây lược nầy có khắc hình
hai người, mình trần, đang ôm vật dưới sự giám định của
một trọng tài. Cây lược này được tìm thấy vào năm 1975
trong ngồi mộ thời triều đại nhà Tần (221-207 trước CN).
Thời nhà Hán (206 trước Tây Lịch-220 sau CN), môn vật
lấy tên là Tương Phốc (Xiangpu) (Tương Phốc có nghĩa là
xô đẩy lẫn nhau). Hai chữ Xiangpu đọc theo tiếng Nhật là
Sumo, như vậy môn Sumo hiện nay có thể cho ta một khái
niệm về môn vật của Trung Hoa thời nhà Hán. Vả lại những
lực sĩ môn Tương Phốc thời nhà Đường (618-907) mang y
phục của những lực sĩ môn Sumo hiện nay.
Dưới thời nhà Tống (960-1279), những võ sĩ mới bắt đầu
mang áo để tiện níu kéo. Như vậy những kỹ thuật đấu vật
thời đó từ từ biến đổi và giống những kỹ thuật đấu vật
hiện nay.
2- Quyền thuật dưới triều đại nhà Minh
Mãi cho tới triều đại nhà Minh (1368-1644) quyền thuật
mới thịnh hành và phát triển nhờ có phong trào mại võ :
trường võ dạy lấy tiền được mở ra cho công chúng.
Trước đó quyền thuật chỉ dành riêng cho những người sống
về nghề võ : võ sư, quân lính, hiệp sĩ, tiêu sư,...
Văn nhân, nhà sư trước đó ham chung múa võ khí, lúc này
lần lần học quyền thuật.
Vào khoảng 1550, một trong ba đại văn hào thời đó, Đường
Thuận Chi (1507-1560) soạn quyển Võ Biên, một phần ghi
lại những môn quyền thuật phổ biến lúc đó. Khoảng mười
năm sau, vào 1562, Thích Kế Quang (1528-1588) một trong
những đại danh tướng của lịch sử Trung Hoa, xuất bản
quyển Kỷ Hiệu Tân Thư, trong đó cả một chương được dành
để ghi lại môn quyền thuật của ông.
Thích Kế Quang có công đánh đuổi bọn cướp biển Nhật Bản
(được gọi là Nụy Khấu) hoành hành dọc bờ biển Trung Hoa.
Để huấn luyện quân sĩ, ông lựa chọn những đòn thế đơn
giản, nhưng rất hữu hiệu. Quân của ông có tiếng là trăm
trận trăm thắng !
Cùng một thời, danh tướng Du Đại Du (1503-1579) ghi lại
trong quyển "Kiếm kinh", xuất bản năm 1565, nguyên tắc
chiến đấu côn pháp ; hầu hết môn phái hiện đại đều lấy
lại nguyên tắc đó để áp dụng vào quyền thuật.
Khoảng năm1600, quyền thuật chùa Thiếu Lâm bắt đầu danh
tiếng. Trước đó chùa chỉ nổi tiếng về côn pháp.
3- Từ thế kỷ thứ 17 tới thế kỷ thứ 19
Thế kỷ thứ 17 là một thời kỳ hưng thịnh của quyền thuật
Trung Hoa, nhiều danh tài xuất hiện:
- Trần Vương Đình (1600-1680), chỉ huy dân quân của
huyện Ôn, thuộc tỉnh Hà Nam, sáng lập Thái Cực Quyền.
- Cơ Tế Khả (1602-1683), thuộc tỉnh Sơn Tây, lập ra Tâm
Ý Quyền, sau được gọi lại là Hình Ý Quyền.
- Phương Thất Nương, một cô gái người tỉnh Phúc Kiến,
sau khi nhìn một con hạc trắng bay nhảy, chế ra Bạch Hạc
Quyền, và dạy môn này tại huyện Vĩnh Xuân.
Có những nhân vật như :
- Ngô Chung (1712-1802), người Hồi Giáo thuộc tỉnh Hà
Bắc, lập Bát Cực Quyền..
- Trần Hưởng, người tỉnh Quảng Đông sống vào thế kỷ thứ
19, sáng lập lúc ông chỉ 30 tuổi, môn Thái Lý Phật Quyền.
- Đổng Hải Xuyên (1797-1882) truyền bá môn Bát Quái
Chưởng tại Bắc Kinh...
Vào năm 1894, tại Bắc Kinh, bốn võ sư đề nghị hợp những
môn võ họ đang dạy lại thành một môn mà họ gọi là Nội
Gia. Bốn người đó là :
- Trình Đình Hoa (?-1900) thuộc Bát Quái Chưởng
- Lưu Vĩ Tường thuộc Hình Ý Quyền
- Lưu Đức Khoan (?-1911) thuộc Dương gia Thái Cực Quyền
- Lý Tồn Nghĩa (1847-1921) thuộc Hình Ý Quyền và Bát
Quái Chưởng.
4- Loạn Quyền Phỉ
Vào cuối thế kỷ thứ 19, Nghĩa Hòa Đoàn là một hội có chủ
trương giải thoát nước Trung Hoa khỏi sự xâm chiếm của
ngoại quốc. Hội viên là những người trẻ tuổi đầy nhiệt
huyết, được huấn luyện cấp tốc vài thế võ. Phần đông đều
học qua môn Thần Quyền. Môn quyền nầy nhờ sự cầu thần
nhập vô người hội viên để che chở họ, dao đâm không lủng,
súng bắn không trúng... Diễn biến cho thấy là sự thật
nghịch hẳn với sự chờ đợi của họ ! Những phần tử nầy
được trang bị côn, đao, kiếm và sau đó được thêm một ít
súng đạn.
Vào tháng 6 năm 1900, một số đông hội viên với sự trợ
giúp của quân đội nhà Thanh, vây khu sứ quán (Đông giao
dân hạng) tại Bắc Kinh. Cho tới 55 ngày sau, nhằm ngày
15 tháng 8, quân đi của tám nước (đó là Bát Quốc Liên
Quân gồm : Anh, Mỹ, Đức, Pháp, Nga Sô, Nhật Bản, Ý Đại
Lợi và Áo) chiếm thành Bắc Kinh, dẹp tan những người nổi
loạn. Giai đoạn nầy của lịch sử Trung Hoa có tên là Loạn
Quyền Phỉ.
5- Hai hội võ vào đầu thế kỷ thứ 20
Dưới sự ảnh hưởng về tổ chức của Tây Phương, chính phủ
Trung Hoa đã đứng ra hệ thống hóa võ thuật nhằm dễ phổ
biến. Hai hội võ được khai trương:
- Tinh Võ Thể Dục Hội tại Thượng Hải vào năm 1909
- Trung Ương Quốc Thuật Quán tại Nam Kinh vào năm 1927.
Thời bấy giờ, ai muốn học võ phải tìm một người thầy
chấp nhận mình, một công trình không dễ, tuy là có nhiều
trường võ đã mở. Hai hội nêu trên lần đầu tiên phổ thông
võ thuật, ai muốn học thì chỉ cần tới hội ghi tên.
Hai hội này sửa đổi lại võ thuật để biến thành một môn
thể thao. Bộ pháp được hạ thấp, đòn thế được đơn giản
hóa.
Kể từ năm 1911, Tinh Võ Thể Dục Hội bắt đầu mở chi nhánh
khắp nước Trung Hoa, tại Singapore, Malaysia, TP.Hồ Chí
Minh,…
Hai hội lựa chọn vài bài quyền trong những môn phái dạy
tại đây (Đàm Thoái, Mê Tông Quyền, Đường Lang Quyền,
Thiếu Lâm Quyền...) để lập một chương trình riêng cho
mỗi hội.
Môn võ hình thành tại Nam Kinh Trung Ương Quốc Thuật
Quán được gọi là Trường Quyền nhưng có vài người đứng
đầu hội cho đó là Thiếu Lâm Quyền ! Họ đã lạm dụng tên
của hai môn võ danh tiếng thời xưa.
Ta phải công nhận là sự hệ thống hóa theo Tây Phương này
có nhiều khía cạnh tốt. Nhờ đó mà những bậc thầy có dịp
trao đổi kỹ thuật và ý kiến. Thêm vào đó, Đường Hào
(1897-1959), thuộc ban quản trị của hội, viết ra nhiều
quyển sách với cái nhìn khách quan về lịch sữ võ thuật
Trung Hoa, phân biệt truyền kỳ và lịch sử.
6- Lôi đài
Vào năm 1928, tại Nam Kinh, Trung Ương Quốc Thuật Quán
tổ chức lần đầu tiên một cuộc thi võ tập trung võ sĩ
toàn quốc (Quốc Thuật Quốc Khảo). Cuộc thi đấu diễn trên
Lôi Đài không phân hạng cân, không mang bao tay. Nhưng
vì quá nhiều võ sĩ bị thương, ban tổ chức đành phải hỏi
những võ sĩ còn lại bầu võ sĩ vô địch! Người được bầu là
Chu Quốc Phúc (1891-1968), người tỉnh Hà Bắc, thuộc phái
Hình Ý, La Hán, Suất Giao và Bát Quái.
7- Phong trào "Tân Võ Thuật"
Phong trào cách tân võ thuật bắt đầu tại hai hội võ từ
đầu thế kỷ XX, được tiếp tục trong thập niên 1950. Vào
năm 1956, UBTDTT Trung Quốc lập ra môn Trường Quyền, một
tổng hợp của những môn quyền thuật thịnh hành trong Hồi
dân. Môn quyền thuật này bỏ phần nhiều đòn thế chiến đấu
để giữ lại và thêm vào những động tác mang tính chất
biểu diễn. Xin nhắc lại là môn Trường Quyền này không có
liên hệ với môn Trường Quyền của Nam Kinh Trung Ương
Quốc Thuật Quán, hay với những môn Trường Quyền cổ xưa !
Môn Trường Quyền sáng tạo vào năm 1956 tương tự với môn
thể thao nhào lộn, môn quyền này có tổ chức những cuộc
biểu diễn bài quyền với trọng tài chấm điểm, y hệt như
ta thường thấy với môn nhào lộn ! Những "võ sĩ" của môn
Trường Quyền thường ít biết áp dụng đòn thế họ đã học
qua.
Cùng một năm, môn Thái Cực Quyền được đơn giản hóa, trên
tiêu chuẩn của Dương gia Thái Cực Quyền, để hình thành
bài Giản Hóa Thái Cực Quyền gồm 24 thức.
Từ đó nhiều môn phái khác được chế hoặc sửa đổi : Nam
Quyền, Đường Lang Quyền, Túy Quyền, Hầu Quyền, Xà Quyền,
Địa Tranh Quyền...
8- Phong trào "Kung-Fu"
Phong trào "Kung-Fu" (Công Phu) du nhập phương Tây vào
thập niên 1970. Sự kiện bắt đầu với những phim võ thuật
của tài tử người Mỹ gốc Hoa, Lý Tiểu Long (Bruce Lee,
1940-1973). Lý sáng chế môn Tiệt Quyền Đạo (Jeet Kune
Do), một môn quyền pha trộn giữa Quyền Anh, Vịnh Xuân
Quyền, Túc Quyền Đạo (Taekwondo), vài thế từ nhiều môn
quyền thuật khác nhau. Ở phương Tây, người ta đã lầm
tưởng là tài tử Lý Tiểu Long sử dụng võ thuật Trung Hoa,
và từ đó phong trào "Kung-fu" bành trướng.
(Hết phần 2)
Ngọc Chi (sưu tầm)
(Nguồn: trich tu http://www.hn-ams.org)
|