
Tháng 8-2004, Thiếu Lâm Tự đã tung lên mạng công bố rộng
rãi những bí kíp công phu được giữ kín hàng ngàn năm nay
như “Dịch cân kinh”, “Tẩy tủy kinh”, “72 tuyệt kỹ”, công
phu điểm huyệt… khiến cho Thiếu Lâm Tự giống như trong
tiểu thuyết võ hiệp, lại một lần nữa làm cho “náo động
giang hồ”
Tu viện quân sự.
Tổ đình Tung Sơn Thiếu Lâm Tự (ngoài ra còn có nam Thiếu
Lâm Tự ở Tuyền Châu, Phúc Kiến; bắc Thiếu Lâm Tự ở Kế
Huyện, Hà Bắc) là một ngôi chùa cổ ẩn dưới Ngũ Nhũ Phong,
trong bóng âm của núi Thiếu Thất thuộc huyện Đăng Phong,
tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Chùa được thành lập từ năm Thái
Hòa thứ 19 đời Bắc Ngụy (năm 495), trụ trì là cao tăng
Ấn Độ Bạt Đà. Thiếu Lâm Tự là một cổ tự nổi tiếng, lại ở
gần kinh thành của hai triều Đường, Tống, được các quý
tộc công thần, văn nhân nho sĩ đến du ngoạn ngâm vịnh
rất đông. Nhưng có điều lạ là trong văn chương Đường,
Tống lại cực ít nhắc đến võ công Thiếu Lâm Tự, phần
nhiều chỉ ca tụng phong cảnh, chỉ đến giữa đời Minh mới
có một số văn nhân nói đến, như Tung du ký của Vương Sĩ
Tuấn viết: “Võ tăng biểu diễn mỗi người mỗi vẻ, côn
quyền vùn vụt như bay, trong có người đánh Hầu quyền,
nhảy nhót múa may giống như khỉ thật”.
Xét qua lịch sử Thiếu Lâm Tự có thể thấy ngôi chùa này
gắn liền với các nhân vật tôn giáo, chính trị, quân sự
nổi tiếng Trung Hoa như Bồ Đề Đạt Ma, Đường vương Lý Thế
Dân, Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn, Thích Kế Quang, Du
Đại Du, Trình Tông Du…Đó là một trong những điểm đặc
biệt mà những nơi khác không có được, góp phần tạo nên
danh tiếng “Thiếu Lâm Bắc Đẩu”, hình thành một “tu viện
quân sự” hùng mạnh.
Hình bóng Đạt Ma và Lý Thế Dân
Tương truyền năm 527, Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) từ
Thiên Trúc theo đường biển sang Nam Hải (Quảng Châu,
Quảng Đông ngày nay) hội kiến Lương Võ Đế nhưng cơ duyên
không hợp nên vượt sông ngược dòng đến Thiếu Lâm Tự. Sau
đó chùa dần dần mở rộng, tăng chúng ngày càng đông, danh
tiếng ngày càng lớn, Thiếu Lâm Tự trở thành Tổ đình
Thiền tông. Đạt Ma được tôn là Sơ tổ Thiền tông Phật
giáo Trung Hoa, thiền pháp tu hành của Thiền tông gọi là
“bích quán”, tức tĩnh tọa đối mặt vào vách. Do ngồi xếp
bằng lâu ngày rất dễ gây mệt mỏi, Đạt Ma thấy tăng chúng
thân thể yếu đuối, tinh thần uể oải mới đem “Dịch cân
kinh”, “Tẩy tủy kinh”- phương pháp cường thân của Ấn Độ
cổ truyền bá.
Trước đây, nhiều người cho rằng Đạt Ma đã sáng chế ra
Đạt Ma kiếm, La Hán thập bát thủ, truyền dạy cho tăng
chúng luyện tập. Do đó mới nói Thiếu Lâm quyền là do Đạt
Ma sáng lập ra, “Thiên hạ công phu xuất Thiếu Lâm”. Kỳ
thực vào thời Nam Bắc triều, tỉnh Hà Nam là nơi chiến
loạn, binh lửa triền miên, vì để bảo vệ tài sản của chùa,
Thiếu Lâm Tự ngay từ khi xây dựng đã lập đội tăng binh
vũ trang, đương thời nhiều tự viện, miếu đường các nơi
khác cũng đều như thế cả. Tăng chúng trong Thiếu Lâm Tự
từng đánh đuổi một băng thổ phỉ đến cướp tự khí trong
chùa, sau bị “bọn chúng lén phóng hỏa đốt tháp viện,
phòng ốc bên trong đều thành tro tàn” (bia chùa Thiếu
Lâm). Những khảo sát gần đây cho thấy những chiêu thức
trong Đạt Ma kiếm, La Hán thập bát thủ có phong cách
tương đồng với chiêu thức quyền kiếm Trung Hoa vốn đã
định hình từ đời Hán, Tam Quốc. Cuối đời Tùy, quần hùng
cát cứ, Thiếu Lâm Tự ở vào giữa khu giao chiến giữa
Đường vương Lý Uyên và Trịnh vương Vương Thế Sung. Vương
Thế Sung có ý muốn chiếm Thiếu Lâm Tự, vì thế đội tăng
binh vũ trang trong chùa được tăng cường tối đa để bảo
vệ chùa. Năm Võ Đức thứ 3(620), con Lý Uyên là Tần vương
Lý Thế Dân đem 4 vạn tinh binh đông chinh đánh bại đại
tướng Đơn Hùng Tín, trực chỉ Hàm Dương. Lúc này Thiếu
Lâm Tự nắm bắt thời cơ, trụ trì Chí Tháo cùng các võ
tăng Đàm Tông, Huệ Dương đưa tăng binh theo hỗ trợ Đường
vương, lập nhiều công lớn, nổi tiếng nhất là trận “13
côn tăng cứu Đường vương”, bắt sống cháu Vương Thế Sung
là Vương Nhân Tắc, bức hàng Vương Thế Sung, được Lý Thế
Dân ban thưởng rất hậu. Nhờ đó sau khi triều Đường thống
nhất thiên hạ bèn ban cho Thiếu Lâm Tự “40 khoảnh đất, 1
bộ trục nước, nhận nhiều ân sủng, lập chốn tu hành từ
đời này sang đời khác”, phong Đàm Tông làm Đại tướng
quân.
Từ đó có thể thấy, Thiếu Lâm Tự vang danh khắp nơi, khởi
đầu là do các võ tăng chọn được thời cơ chính trị thích
hợp, được giai cấp thống trị che chở. Theo “Tung Nhạc
Thiếu Lâm Tự bi” thì Chí Tháo đại sư suất lĩnh tăng
chúng đại phá quân Vương Thế Sung, bắt sống Vương Ích
Tắc, chắc chắn con số võ tăng tham gia chiến trận không
phải ít, sau này cho là “13 côn tăng cứu Đường vương” sợ
rằng khó tránh khỏi hư cấu.
Thiếu Lâm Tự được triều Đường tin tưởng và che chở, tiếp
tục duy trì đặc quyền huấn luyện tăng binh vũ trang. Vào
cuối đời Đường, các phiên trấn có tình trạng cát cứ.
Sách “Tư trị thông giám” của Tư Mã Quang ghi rằng: Vào
năm Nguyên Hòa thứ 10 (815), võ tăng Thiếu Lâm là Viên
Tịnh liên kết với Thanh Châu tiết độ sứ Lý Đạo mưu trừng
phạt tham quan, định giết tể tướng. Sau bị bộ tướng là
Dương Tiến, Dương Tái Hưng làm phản, đưa quân vào Tung
Sơn bắt Viên Tịnh, sai đại lực sĩ dùng dùi sắt đánh gãy
chân hòa thượng nhưng cố sức mà đánh không gãy. Viên
Tịnh lúc ấy đã 80 tuổi, quát lớn “Đồ chuột, bẻ chân
không xong sao dám gọi là kẻ mạnh?”. Trước khi bị hành
hình, hòa thượng điềm nhiên nói: “Lỡ việc của ta, không
để cho máu nhuộm Lạc Thành”.
Truyền thuyết Triệu Khuông Dẫn
Khai quốc hoàng đế Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn lấy võ
công định thiên hạ, từng có thuyết rằng “Ngũ xích côn
bảng đẳng thân tiêm, Đả biến thiên hạ vô địch thủ” (Thanh
côn 5 thước cao bằng người, đánh khắp thiên hạ không có
địch thủ). Theo “Quyền kinh quyền pháp bị yếu” thì Triệu
Khuông Dẫn có được bản lĩnh ấy là nhờ học từ Thiếu Lâm
Ngoại gia quyền. “Bắc quyền hối biên” viết rằng: “Phái
Thiếu Lâm ngoại gia thì Triệu Khuông Dẫn là tổ khai sơn
vậy. Khuông Dẫn có tuyệt kỹ, không truyền ra ngoài, khi
say mới nói cho quần thần biết sự ảo diệu của tuyệt kỹ
ấy. Sau hối hận nhưng không muốn nuốt lời, khi qua đời
mới giấu sách viết tuyệt kỹ ấy trong thần đàn Thiếu Lâm
Tự. Tuyệt kỹ ấy lấy ngạnh công làm thượng thừa”. “Tuyệt
kỹ quyền pháp ấy xuất phát từ Thiếu Lâm Tự, từ khi Tống
Thái Tổ học được mới vang danh bốn bể” (Quyền kinh quyền
pháp bị yếu). Hình thức Sáo lộ (bài quyền) được định
hình vào đời Tống mà khởi thủy là “Tống Thái Tổ tam thập
nhị thế Trường quyền” (32 thế Trường quyền của Tống Thái
Tổ) vì thế lại có thuyết nói quyền pháp Thiếu Lâm Tự
khởi từ Tống Thái Tổ.
Những thuyết trên dù có căn cứ hay không cũng nói lên
một điều là võ công Thiếu Lâm vang danh thiên hạ là diễn
hóa từ võ nghệ thực chiến trong chiến trận mà thành.
Liên tiếp các triều đại sau, Thiếu Lâm Tự vẫn duy trì
đặc quyền tăng binh vũ trang của mình, nhờ đó quyền
thuật Thiếu Lâm không ngừng được hoàn thiện đến mức
thượng thừa, ảnh hưởng cực lớn, được tôn xưng là “Thiếu
Lâm Bắc đẩu”.
Lê Cường
(Sưu
Tầm)